Westlife – những lãng tử hát tình ca

Westlife đến Việt Nam tháng 10 mang trong lòng fan bao nhiêu háo hức. Nhân dịp Westlife đến Việt Nam tháng 10, cùng nhìn lại cuộc đời Westlife – những lãng tử hát tình ca.

Westlife den viet nam thang 10 – Trong hơn 14 năm ca hát, đã nhiều lần boyband Ireland đối mặt với thất bại, mâu thuẫn, nhưng họ không tan rã như nhiều ban nhạc khác cùng thời. Ngày 1/10, Westlife sẽ lần đầu gặp gỡ khán giả Việt Nam.

“… So I say a little prayer, and hope my dreams will take me there. Where the skies are blue, to see you once again, my love…” – đây là những giai điệu ngọt ngào, sâu lắng được giới trẻ Việt Nam ngân nga trong suốt những năm đầu thập niên 2000. Không đa dạng phong cách như Backstreet Boys, cũng không ồn ào như N’Sync, Westlife chinh phục khán giả bằng những bản tình ca mượt mà, đầy cảm xúc như My Love, Swear It Again hay Fool Again.

Westlife den viet nam thang 10
Boyband người Ireland – Westlife. Từ trái sang – Bryan, Mark, Nicky, Shane và Kian.

Westlife den viet nam thang 10 – Tại Việt Nam, âm nhạc của Westlife xuất hiện vào đúng thời điểm chuyển giao giữa hai thiên niên kỷ, cũng là lúc trào lưu boyband thế hệ mới nở rộ nhất với hàng chục cái tên. Tuy nhiên, Shane, Mark, Kian, Nicky và Bryan lại có một sức hút mãnh liệt và sức ảnh hưởng lớn tới khán giả Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, khi họ tạo dựng được một “thương hiệu âm nhạc” riêng mang tên “Westlife”.

* 1997 – 1998: Từ IOU, Westside cho đến Westlife

Tháng 5/1997 tại Sligo – một thị trấn nhỏ ở Tây Bắc Ireland, ba chàng trai Mark, Shane và Kian gặp nhau lần đầu khi cùng đứng ngắm nghía một nhạc cụ. Vài ngày sau, cả ba xuất hiện trong một chương trình ca nhạc tại nhà hát địa phương. Một nhà sản xuất trong thị trấn đã tập trung 6 chàng trai trẻ và lập thành ban nhạc có tên gọi IOU, bao gồm Shane, Mark, Kian và ba người khác. IOU từng phát hành một đĩa đơn có tên Together Girl Forever. Nơi đầu tiên họ biểu diễn là hộp đêm Schooners, nằm heo hút trên một xa lộ đi qua thị trấn Sligo.

Sau một thời gian hát, thu âm tại những phòng thu tư nhân ở quê nhà, IOU được ông bầu Louis Walsh để ý khi họ xuất hiện trên chương trình truyền hình TV News Show. Louis quyết định mời IOU biểu diễn “lót” cho đàn anh Backstreet Boys khi nhóm này tới lưu diễn ở Dublin, thủ đô của Ireland. Sau đấy, Ronan Keating – thủ lĩnh nhóm Boyzone – trở thành đồng quản lý của nhóm, cùng Louis Walsh. Cả hai nhận thấy tiềm năng nhưng cần có sự thay đổi đội hình IOU. Ba thành viên ra đi, chỉ còn lại Mark, Shane và Kian.

Một cuộc tuyển chọn gắt gao diễn ra và hai thành viên còn lại được chọn vào nhóm 5 người là Nicky và Bryan. Thực tế cả hai chẳng hề quan tâm tới việc gia nhập ban nhạc mà chỉ đi thử giọng cùng hai người bạn khác. Nhóm nhạc IOU tỉnh lẻ ngày nào được đổi tên thành Westside để kỷ niệm nơi mà họ lần đầu gặp nhau (Sligo). Tuy nhiên, một nhóm nhạc Mỹ đã sử dụng tên này và dọa sẽ kiện nếu 5 chàng trai Ireland không đổi tên. Cuối cùng, Westside được đổi tên thành Westlife và chính thức thành lập từ tháng 7/1998.

* 1999 – 2003: Những “hoàng tử” Pop Ballad của châu Âu

Westlife den viet nam thang 10 – Swear It Again là đĩa đơn đầu tiên của Westlife, phát hành tháng 3/1999. Video clip được thực hiện khá đơn giản, nhưng ngoại hình sáng của 5 chàng trai, với chất giọng ngọt ngào và giai điệu đầy cảm xúc đã đưa ca khúc này leo lên vị trí No.1 tại Anh và Ireland. Tên tuổi của Westlife bắt đầu lan rộng khắp châu Âu, châu Á và châu Phi. Các đĩa đơn tiếp theo của họ là If I Let You Go, Flying Without Wings và đĩa đơn kép I Have A Dream/ Seasons In The Sun đều trở thành quán quân bảng xếp hạng âm nhạc Anh. Album đầu tay mang chính tên nhóm – Westlife – đạt được vị trí á quân tại Anh và Ireland.

Tháng 11/2000, album thứ hai Coast To Coast ra đời, nhanh chóng đạt vị trí cao nhất tại Anh và trở thành album bán chạy thứ tư trong năm 2000 của xứ sở sương mù. Đĩa đơn đầu tiên trích từ album này là Against All Odds, một bản cover của danh ca Phil Collins và được Westlife hát chung với diva Mỹ Mariah Carey tiếp tục leo lên No.1. Đĩa đơn thứ hai, My Love, đưa Westlife trở thành nhóm nhạc đầu tiên trong lịch sử có 7 đĩa đơn liên tiếp giành được vị trí quán quân trên bảng xếp hạng âm nhạc Anh.

Luôn xuất hiện với phong cách lịch lãm và chinh phục người nghe bằng những bản Pop ballad ngọt ngào, Westlife trở thành thần tượng của hàng triệu cô gái trẻ trên toàn cầu. Đầu năm 2001, nhóm quyết định thực hiện tour diễn vòng quanh thế giới đầu tiên. Khi trở về vào mùa thu, album thứ ba – World of Our Own – ra đời và có thêm hai đĩa đơn đạt được No.1 là Queen of My HeartWorld Of Our Own.

Đầu năm 2002, Bryan McFadden trở thành thành viên đầu tiên của Westlife kết hôn. Anh cưới Kerry Katona, cựu thành viên nhóm Atomic Kitten, khi cả hai đã có với nhau một cô con gái. Cuối năm 2002 để kỷ niệm 5 năm ca hát, Westlife tung ra album tổng hợp đầu tiên với tên gọi Unbreakable: The Greatest Hits (vol.1). Album này gồm những bản hit thành công nhất của nhóm trong các album trước và thêm một số ca khúc mới.

Cuối năm 2003, album mới Turnaround, vẫn với phong cách ngọt ngào, lãng mạn quen thuộc, đã trở thành album thứ tư liên tiếp của Westlife xếp hạng cao nhất tại Anh. Trong năm này, Nicky Byrne và Shane Filan trở thành hai thành viên tiếp theo của Westlife cưới vợ. Cả hai đều kết hôn với những người bạn gái đã gắn bó với họ từ khi còn ấu thơ. Bryan McFadden chào đón con gái thứ hai, Lily-Sue.

* 2004: Bryan McFadden tách ra solo, Westlife đứng trên bờ vực tan rã

Ngày 9/3/2004, Bryan bất ngờ tuyên bố rời nhóm để dành thời gian cho gia đình. Tuy nhiên, anh chia tay Kerry Katona chỉ vài tháng sau khi bỏ Westlife. Bryan bắt đầu sự nghiệp solo riêng với nghệ danh là tên thật – Brian McFadden. (Anh từng sang Việt Nam biểu diễn năm 2009 trong chương trình Hennessy Artistry). Thiếu Bryan, Westlife đứng trước bờ vực tan rã. Giai đoạn này, trào lưu boyband và Pop ballad cũng bắt đầu thoái trào trên thế giới. Điều này khiến tương lai của nhóm trở nên mờ mịt hơn.

Sau khi Bryan rời nhóm vào năm 2004, Westlife còn lại 4 thành viên. Ảnh: westlife.
Sau khi Bryan rời nhóm vào năm 2004, Westlife còn lại 4 thành viên. Ảnh: westlife.

Tuy nhiên, với bốn thành viên, Westlife tiếp tục hoạt động và cho ra đời album thứ sáu – Allow Us To Be Frank vào tháng 11/2004. Trong album này, nhóm thay đổi phong cách từ Pop ballad sang Swing/ Jazz với các ca khúc từ thập niên 1950-1960, cover của các nghệ sĩ như Frank Sinatra, Nat King Cole… Album này vẫn đem về cho Westlife nhiều thành công, song không còn được như trước.

* 2005 – 2009: Westlife trong thời đại mới

Tháng 8/2005, thành viên trẻ nhất nhóm – Mark Feehily – thú nhận mình là gay và tiết lộ rằng bạn bè, người thân và cả các thành viên trong Westlife cũng biết điều đó khi ban nhạc mới thành lập. Mark đã phải giữ kín giới tính thật của mình theo yêu cầu của ông bầu. Mark nhận được nhiều sự ủng hộ của các fan khi nói ra sự thật. Anh cũng chia sẻ về mối quan hệ với bạn trai Kevin McDaid.

Tháng 10/2005, đĩa đơn You Raise Me Up (cover của Josh Groban) đánh dấu sự trở lại của Westlife đã đem về cho nhóm No.1 thứ 13 trên bảng xếp hạng Anh. Album thứ 7 với tựa Face To Face cũng giành được vị trí quán quân và lấy lại ánh hào quang trước đây cho Westlife. Các đĩa đơn còn lại của album này như When You Tell Me That You Love Me (hát cùng Diana Ross) hay Amazing tiếp tục khẳng định vị thế của Westlife ở dòng nhạc Pop ballad.

Cuối năm 2006, Westlife phát hành album thứ 8 – The Love Album, với đĩa đơn duy nhất là The Rose. Cả album và đĩa đơn này tiếp tục chinh phục bảng xếp hạng âm nhạc Anh và Ireland. Một năm sau, Westlife tiếp tục cống hiến cho người hâm mộ album mới Back Home với ba đĩa đơn rất nổi bật là Us Against The World, HomeSomething Right. Tour diễn 10 Years of Westlife kỷ niệm 10 năm đi hát của 4 chàng trai đã được tổ chức rất hoành tráng tại một số thành phố ở Anh và Ireland vào tháng 11/2008. Giới truyền thông tại Anh xếp Westlife ở vị trí thứ ba trong danh sách những nhóm nhạc vĩ đại nhất của xứ sở sương mù.

Mùa hè 2009, nhóm bắt đầu thu âm album thứ 10 có tên Where We Are. Album này có nhiều sự thay đổi về phong cách so với những sản phẩm âm nhạc trước bởi các thành viên đều muốn thử nghiệm ở nhiều dòng nhạc chứ không muốn mãi mãi gắn với Pop ballad. Đĩa đơn duy nhất trích từ Where We AreWhat About Now, cover của danh ca người Mỹ – Daughtry.

* 2010 – 2011: Gravity và The Greatest Hits

Tháng 11 năm ngoái, Westlife tiếp tục cho ra đời album thứ 11 – Gravity và bắt đầu chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới thứ 11 trong sự nghiệp. Gravity bao gồm 12 ca khúc, với đĩa đơn mở màn là Safe. Vẫn mang phong cách Pop ballad ngọt ngào, nhưng phần lời ca của Safe được đánh giá là có nhiều đột phá so với những ca khúc trước đây của Westlife. Không còn ủy mị, không còn yếu đuối, ca từ trong bài hát mới này đã mạnh mẽ và tinh tế hơn rất nhiều.

Gravity bắt đầu từ hồi 7/3 năm nay và đã đi qua nhiều thành phố ở châu Âu và châu Phi. Tour diễn tại châu Á bắt đầu tại Thượng Hải từ 21/9 và lần lượt đi qua Quảng Châu, Bắc Kinh (Trung Quốc), Hong Kong, Quezon (Philippines), Hà Nội (Việt Nam), Singapore, Kuala Lumpur (Malaysia), Seoul (Hàn Quốc). Sau khi kết thúc Gravity Tour vào ngày 9/10, nhóm sẽ trở về và hoàn thành nốt album tổng hợp thứ hai – Westlife: The Greatest Hits, dự kiến ra mắt người hâm mộ vào cuối năm.

Hình ảnh Westlife trong album mới nhất - 'Gravity'. Ảnh: westlife.
Hình ảnh Westlife trong album mới nhất – ‘Gravity’. Ảnh: westlife.

Chặng đường 14 năm của Westlife có thể chưa đủ đài như của New Kids On The Block, Backstreet Boys hay Boyzone, nhưng tầm ảnh hưởng của họ không hề thua kém các “đàn anh”. Trong sự nghiệp của mình, đã có lúc những chàng trai đến từ Ireland này đã phải nếm trải những sự thất bại, mâu thuẫn, nhưng khác với các ban nhạc cùng thời nay đa phần đã tan rã, Westlife vẫn tồn tại và cống hiến cho người hâm mộ những sản phẩm âm nhạc chất lượng.

Mỗi khi nhắc tới Westlife, các fan vẫn nhớ tới hình ảnh những chàng trai lịch lãm với những bản tình ca du dương, ngọt ngào làm say đắm lòng người. Đó là một hình ảnh sẽ mãi không thể phai nhòa trong tâm trí của những ai từng biết đến và yêu mến boyband này.

 

Bấm xem ngay thông tin cập nhật 24h sự kiện : Westlife đến Việt Nam 2011